ZEN

VAI TRÒ CỦA Ý THỨC TRONG CHUYỂN HÓA NGHIỆP

Vai trò của ý thức trong chuyển hóa nghiệp là rất quan trọng. Như Đức Phật Gautama đã dạy:
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
(Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu)
Hoặc như trong kinh Jaina có dẫn thí dụ về một người nướng một củ khoai nhưng lại nghĩ rằng mình đang nướng một đứa trẻ, vậy thì y sẽ phạm phải nghiệp sát sinh; ngược lại một vị thánh nếu chẳng may quay một đứa trẻ trên than hồng nhưng lại nghĩ rằng mình đang nướng một củ khoai thì cũng không tạo nghiệp!
Như vậy ý thức có vai trò quyết định trong chuyển hóa nghiệp.
Hầu hết chúng sinh vì không ý thức được việc mình đang làm nên bị rơi vào tình trạng vô lý tác ý. Vì thế mà nghiệp ngẫu nhiên phát sinh không thể kiểm soát.
Một người bình thường, vào lúc lâm chung sẽ nương theo tốc hành tâm cận tử để định hướng cho thức thân (manokaya)rời sắc thân đi tái sinh như viên đạn rời nòng súng vậy! Nói cách khác, chính ý thức chung cuộc lúc lâm chung quyết định dòng nghiệp tái sinh.
Một người tu tập tuệ giác vì phát triển tuệ giác nên theo dõi được lộ trình tâm. Khi đối diện với một pháp bất tịnh, người đó chặn đứng được lộ trình tâm của mình tại tốc hành tâm, không cho hành nghiệp diễn ra. Như vậy một hành giả tu tập con đường nhận thức sẽ trưởng thành năng lực làm chủ quá trình tạo tác của tâm. Thông qua đó mà kiểm soát quá trình phát sinh những nghiệp ngẫu nhiên.
Một người tu tập tuệ giác thì trưởng thành dựa trên tam học: giới – định – tuệ. Trước đó vị này xây dựng cho mình một cơ sở nền tảng là pháp thắng trí, tức là trí thấy biết và suy tư thường trực về ba đặc tính vô thường – vô ngã – khổ của vạn pháp. Sau khi trưởng thành tuệ giác, vị đó đạt tới sự chứng nghiệm trực tiếp về các sắc pháp, sự tổ hợp của các sắc pháp; các sát na tâm và lộ trình tâm cũng như các pháp chân đế.
Một hành giả Sanatana thì ưu tiên cho chuyển hóa nghiệp như ánh sáng. Tuy nhiên về cuối hành trình, hành giả có nhu cầu trưởng dưỡng tính thấy (rigpa). Tính thấy thì xuất hiện trong trạng thái trung gian (bardo) khi mà các giác quan vật lý tạm thời đánh mất quyền chủ động chi phối dẫn dắt hành giả.
Có sáu bardo:
+ bardo của trạng thái thức (jati antarabhava hay kye ne bardo)
+ bardo của trạng thái mộng (svapnantabhava hay milam bardo)
+ bardo thiền định (samadhi antarabhava hay samten bardo)
+ bardo cận tử (mumursantarabhava hay chilkai bardo)
+ bardo của pháp thân diệu dụng(dharmatantarabhava hay chonyid bardo/ cheunyi bardo)
+ bardo của trưởng thành và tái sinh (bhavantarabhava hay sipa bardo/ sipai bardo).
Có ba bardo diễn ra vào lúc sống; ba bardo diễn ra vào lúc chết và tái sinh. Hành giả Sanatana chủ yếu thực hành triển khai tính thấy trong các bardo trong đời sống, đó là: bardo của trạng thái thức, bardo của trạng thái mộng và bardo thiền định.
Khởi đầu tính thấy xuất hiện rải rác như những cơ hội con, cho đến thời điểm một biến cố có năng lực thẩm thấu sâu rộng tác động mạnh mẽ vào tâm thức hành giả như cơ hội mẹ.
Biến cố này khiến hành giả Sanatana đạt được tình trạng đại giác. Đó là lúc y thoát ly khỏi sự chi phối của thế giới hiện tượng và nếm trải kinh nghiệm đích thực về Tồn Tại Tuyệt Đối. Kể từ đó, tính thấy của hành giả trở nên thường trực và y nhận thức thế giới hiện tượng bằng tri kiến thực tại như thị. Đây là một dấu mốc trưởng thành quan trọng, đồng thời cũng là điểm hội tụ về nhận thức của tất cả các dòng chảy tâm linh.
Tri kiến thực tại như thị nếu không được hậu thuẫn bởi các thành tựu về năng lực sẽ khiến cho hành giả không thể kiểm soát sự phóng dật và tự bộc lộ như là trí huệ điên. Đây là trạng thái ban sơ của giác ngộ và cần phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua ba giai đoạn tiếp theo: tri kiến thực tại như huyễn, hợp nhất tri kiến và giải thể tri kiến.
Vào lúc sau cùng, hành giả Sanatana đạt tới tình trạng giải phóng hoàn toàn ý thức. Tình trạng này không phải là chấm dứt liên hệ giữa tư duy và chuyển hóa nghiệp nhưng không còn là sự trói buộc nữa.
Có câu chuyện về một vị đại thành tựu giả (mahasiddha) đang ở trong lều của mình giữa rừng sâu. Một bọn trộm cướp chôn giấu một ít vàng ở gần đó và chúng giải thích với vị thánh rằng chúng đang chôn than xuống đất. Vị này hỏi lại: “Than à?!” rồi lặng lẽ làm công việc của mình… Hôm sau khi đào kho tàng lên, bọn trộm cướp thấy tất cả vàng đều đã biến thành than. Chúng hoảng sợ đến bên vị đại thành tựu giả và vật nài ông này giúp chúng phục hồi chỗ vàng trở về nguyên trạng. Vị này hỏi lại: “Vàng à?!” rồi lặng lẽ làm công việc của mình… Tất cả chỗ than trở lại thành vàng như cũ!
Như vậy chúng ta thấy rằng, trong tình trạng giải thể tri kiến, ý thức vẫn tương tác với vạn hữu và dòng nghiệp vẫn phô diễn như nó là. Nhưng tất cả các pháp giờ đây trở về với bản chất không có tự tính của chúng và không còn trói buộc hành giả nữa. Hành giả vừa là nhà tiên nghiệm đồng thời vừa trở nên đồng nhất với dòng chảy Nhân Quả. Đây là tình trạng giải phóng hoàn toàn của ý thức ra khỏi sự ràng buộc với quá trình chuyển hóa nghiệp.
St

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *