TRIẾT HỌC SANATANA

Triết học là bộ môn khoa học nghiên cứu các vấn đề thuộc về bản chất như chân lý; vật chất và ý thức; nhận thức và năng lực nhận thức thực tại; đạo đức và thẩm mỹ… Xét đến cùng thì triết học quan tâm đến cả quá trình tương tác giữa các vấn đề lý luận với thực tại đời sống mà đối tượng trọng điểm chính là con người. Nhưng diễn đạt theo cách thông tục thì triết học chính là biện pháp nỗ lực dai dẳng nhất để tìm cách mở rộng cái nhà tù đang ngăn nhốt con người với thực tại tối hậu. Vì thế nên bất cứ xu hướng vận động triết học nào rồi cũng tiệm cận đến những vấn đề mang tính bản thể:

+ Vũ trụ cấu tạo và vận động thế nào?…

+ Con người là gì; ý thức là gì, tồn tại là gì?…

+ Đâu là giải pháp cứu cánh và cách thức để đạt tới nó?…

Trong một nỗ lực rất cơ bản tự khởi thủy, chúng ta đã thiết lập cặp phạm trù ý thức – tồn tại làm đối tượng trung tâm của triết học. Quả thật, bởi chưng bản chất của ý thức là một tiến trình tâm thần thì cũng chỉ có nỗ lực gạn lọc quá trình tâm thần đó cho đến tận cùng mới có thể khiến cho một cá thể điên loạn chấm dứt sự rồ dại! Tuy nhiên, trong nền Minh Triết Vĩnh Hằng (Sanatana) người ta không duy trì tâm thái yếm thế. Thay vì bấn loạn trong việc lý giải về nguồn cơn chứng điên rồ của con người, các nhà thông thái của truyền thống Sanatana đã đề cập đến bốn nan đề của triết học:

1. Bản chất của vũ trụ

2. Bản chất của chúng sinh

3. Bản chất của tái sinh

4. Pháp Duyên khởi.

Trong đó vấn đề pháp Duyên khởi biện chứng và bao hàm cả ba vấn đề còn lại. Pháp Duyên khởi mô tả trọn vẹn tiến trình vận động của tồn tại từ Chân Như đến thế giới Ảo Ảnh. Thông qua đó, các chân lý thuộc về bản chất của vũ trụ được hiển lộ. Mặt khác, pháp Duyên khởi mô tả bản chất của chúng sinh cũng như sự bám chấp của chúng sinh là nguồn cơn tái sinh của họ. Do đó trong bốn nan đề của triết học Sanatana thì pháp Duyên khởi là quan hệ hơn cả! Pháp Duyên khởi hay còn gọi là luật Nhân Quả (Nhân – Duyên – Quả) gồm mười hai chi:

Vô Minh (1) duyên sinh Hành Nghiệp(2); Hành Nghiệp duyên sinh Thức (3); Thức duyên sinh Danh – Sắc (4); Danh – Sắc duyên sinh Lục Nhập (5); Lục Nhập duyên sinh Xúc (6); Xúc duyên sinh Thọ (7); Thọ duyên sinh Ái (8); Ái duyên sinh Thủ (9); Thủ duyên sinh Hữu (10); Hữu duyên sinh Sinh (11); Sinh duyên sinh Lão – Bệnh – Tử (12).

Chúng ta hãy chú ý rằng triết học Sanatana chấp nhận cả những cách diễn đạt khác của luật Nhân – Quả. Theo như thế thì số chi phần và tên gọi trong từng trường hợp có thể khác biệt… Rõ ràng người ta có lợi ích thù thắng trong việc tiếp cận với lý Nhân Quả… Tùy theo mối quan tâm và định hình tâm thần mà người ta tiếp cận với từng chi phần khác nhau trong chuỗi mười hai nhân duyên. Triết học Sanatana thì coi Hành Nghiệp và sự phô diễn của nó trong thế giới Ảo Ảnh là đối tượng nghiên cứu. Xét về bản chất thì các chi trong chuỗi mười hai nhân duyên thực ra chỉ là sự suy biến của Vọng Thức. Sự suy biến của Vọng Thức về phương diện pháp tính là Vô Minh; về phương diện pháp tướng là Hành Nghiệp. Nói cách khác, chuỗi mười hai nhân duyên thực ra chỉ là sự triển khai của Hành Nghiệp. Nghiên cứu về sự khai diễn của Hành Nghiệp là một trong những cách tiếp cận để chúng ta có thể tư duy về tính khách quan của Tồn Tại thông qua pháp Duyên khởi.Thông qua nghiên cứu về pháp Duyên khởi như thế, chúng ta sẽ có trọn vẹn cơ hội chứng kiến sự phô diễn của Hành Nghiệp từ khởi thủy Vô Minh đến đắm nhiễm trong Luân hồi…

NĂM MỨC ĐỘ TƯ DUY

1. Tư duy đơn giản.Tư duy đơn giản hay còn gọi là tư duy thuần túy lý trí, là tư duy xây dựng trên các kinh nghiệm về thế giới hiện tượng, bao gồm cả những kinh nghiệm được truyền đạt thông qua học tập. Tư duy đơn giản được hình thành từ các phản xạ bản năng. Việc học tập cung cấp thêm cho các phản xạ bản năng này logic thô sơ.Tư duy đơn giản vì thế thuần túy là phản ảnh của chủ thể đối với thế giới hiện tượng. Thế nhưng, trong đời sống tất cả chúng ta đều được dẫn dắt bằng tư duy đơn giản.

2. Tư duy cảm xúc.Tư duy cảm xúc là tư duy được phát triển trên nền tảng của tư duy đơn giản. Tuy nhiên trong trường hợp này, mỗi hiện tượng hoặc kinh nghiệm đều được gắn liền với thế giới cảm xúc của chủ thể.Nếu tư duy đơn giản được lưu giữ và liên hệ bởi kinh nghiệm và bản năng thì tư duy cảm xúc được đối chiếu với trí nhớ cảm xúc…Kể từ tư duy cảm xúc chúng ta bắt đầu tương tác với tồn tại theo cách không còn tuân theo các phản xạ bản năng hoặc logic tính nữa. Ngược lại, các hành vi của chúng ta bắt đầu trở nên bị chi phối bởi cảm xúc, thậm chí đến mức thái quá…Nói cách khác, tư duy cảm xúc thường xuyên đi ngược lại với trật tự khách quan của thế giới hiện tượng. Nó có tính bất chấp logic nhưng lại chi phối hành động hiện tại của chủ thể.Không những vậy, nó còn định hướng cho một loạt hành vi tiếp theo cũng với tinh thần bất chấp logic như vậy… Nếu có nhất thời bị chi phối bởi thế giới hiện tượng thì tư duy cảm xúc vẫn thường trực nơi chủ thể dưới dạng ký ức và nó có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào, chỉ cần xuất hiện một liên hệ rất ít chi tiết liên quan từ thế giới hiện tượng… Khi đó tư duy cảm xúc lại bùng nổ và chiếm quyền chi phối chủ thể…Cuộc sống của chúng ta được dẫn dắt lần lượt bởi hai loạt tư duy: tư duy thuần túy lý trí và tư duy cảm xúc. Chúng không ngừng chơi trò bập bênh và khiến cho chúng ta không thể thoát khỏi tình trạng phản ứng thụ động trước các vận động vô thường của tồn tại.

3. Tư duy biểu tượng.Khi các kinh nghiệm và cảm xúc được khái quát thành các biểu tượng thì tư duy biểu tượng được hình thành.Nếu như tư duy cảm xúc là chướng ngại ngăn cách con người với tồn tại giản đơn thì tư duy biểu tượng còn đoạn tuyệt quyết liệt hơn thế!Tư duy biểu tượng hình thành chiều sâu của tư tưởng và chi phối hành động của tha nhân theo hướng gán cho hành động một số ý nghĩa chủ quan. Điều này khiến cho bản thân hành động và nhận thức tùy hành về tồn tại mất đi tính khách quan của nó.Những tư duy biểu tượng chi phối nhân loại triệt để nhất chính là lý tưởng, mục đích, công bằng và giải thoát. Đây chắc chắn là bốn đường lối tư duy chính yếu khiến cho chúng ta triệt để hao tán sinh lực cho đến chết…Tư duy biểu tượng vì có tính chi phối triệt để nên nó dẫn dắt cả tư duy lý trí và tư duy cảm xúc tham gia vào trò chơi biến ảo của thế giới hiện tượng. Nói cách khác, cả ba loại tư duy này chỉ mô tả các kinh nghiệm được khái quát như là xu hướng phản ứng thụ động của chủ thể với thế giới hiện tượng. Muốn tiệm cận với vận động khách quan của thế giới hiện tượng chúng ta cần phải xây dựng tư duy sáng tạo thực tại.

4. Tư duy sáng tạo thực tại.Trước tiên chúng ta phải minh định lại khái niệm tư duy sáng tạo. Có hai trạng thái sáng tạo: trạng thái sáng tạo theo tư duy tuyến tính và trạng thái sáng tạo thực tại… Tư duy sáng tạo tuyến tính chỉ là tình trạng quy nạp các kinh nghiệm cũ,tổng quát hóa và tìm cách tối ưu chúng theo hướng đã định sẵn. Vì thế nên tư duy sáng tạo tuyến tính thật ra chỉ là sự nâng cấp của tư duy lý trí… Hiển nhiên, nếu tiếp tục duy trì tư duy tuyến tính chúng ta sẽ không thể vượt thoát được sự chi phối của thế giới hiện tượng.Do đó cần thiết để chúng ta đề cập đến nhu cầu tiếp cận và trưởng thành nội dung tư duy sáng tạo thật sự: tư duy sáng tạo thực tại!Tư duy sáng tạo thực tại mà chúng ta đề cập trong trường hợp này hoàn toàn khác biệt về bản chất. Trong trường hợp tư duy sáng tạo tuyến tính, chủ thể vẫn là người sáng tạo và đối tượng tư duy là một nhóm nhỏ tập hợp các hiện tượng liên quan. Ngược lại, trong tư duy sáng tạo thực tại người sáng tạo chính là thực tại; chủ thể là người chứng kiến sự sáng tạo của thực tại. Y chỉ chứng kiến và nhấn mạnh kinh nghiệm về sự sáng tạo đó thông qua ngôn ngữ hoặc hệ thống biểu đạt của bản thân mà thôi.Tư duy sáng tạo thực tại chỉ có thể xuất hiện khi người chứng kiến quan sát dòng chảy tự nhiên của thực tại như nó là (being – tiếng Anh) mà không áp đặt ý chí chủ quan. Trạng thái tuyệt đối tôn trọng tồn tại khách quan như thế là dấu hiệu trưởng thành đích thực của đức khiêm tốn!Do đó tư duy sáng tạo thực tại là năng lực tư duy được phô diễn tự nhiên do sự thăng hoa của khiêm tốn. Thông qua tư duy sáng tạo thực tại, người ta mới có cơ hội để tiệm cận với tồn tại khách quan. Qua đó mà vượt thoát khỏi sự chi phối của tư duy tuyến tính… Thông qua tư duy sáng tạo thực tại, người ta mới có cơ hội mở ra một hướng tư duy mới, gần với chân lý hơn, tiếp cận với bản thể của tồn tại một cách chủ động và tích cực hơn…So sánh với các hình thức tư duy khác thì tư duy sáng tạo thực tại rất khác biệt. Tư duy sáng tạo thực tại là bước ngoặt trong nỗ lực trưởng thành tâm thức… Nếu không thể xây dựng tư duy sáng tạo thực tại trong tinh thần khiêm tốn thì hành giả không thể vượt thoát được sự chi phối của thế giới Ảo Ảnh.

5. Tư duy toàn thể.Nếu như khiêm tốn khiến cho chúng ta hạn chế sự bành trướng của bản ngã hư ảo, qua đó khiến nhân loại tri nhận về bản chất của tồn tại một cách chân thật hơn thì tư duy toàn thể khiến cho các chi tiết cấu thành tồn tại bộc lộ hoàn toàn khách quan và tự nhiên.Chỉ từ khi chúng ta trưởng thành tư duy sáng tạo trong khiêm tốn thì chúng ta mới có thể tiến tới tư duy toàn thể. Hành trình của tư duy vì thế mới có thể đi đến tận cùng…Tư duy toàn thể là tư duy tối cao bởi vì thông qua nó chủ thể đã chiêm ngưỡng hoàn toàn vẻ đẹp của thực tại… Một khi đã trải nghiệm tư duy toàn thể, chúng ta sẽ không có nhu cầu gì khác ngoại trừ đắm mình trong sự tri ân, thanh thản và toại nguyện!Tư duy toàn thể đồng thời là bằng chứng sự thất bại của tư duy tuyến tính. Nếu như tư duy tuyến tính tiếp tục ngăn nhốt chủ thể trong thế giới hiện tượng thì tư duy toàn thể lại phô diễn sự hoàn hảo của thế giới hiện tượng. Nó cho thấy thế giới Ảo Ảnh và Chân Như chẳng có gì biện biệt. Do đó tư duy toàn thể là cơ hội duy nhất để vượt thoát sự chi phối của thế giới Ảo Ảnh.Đặc trưng của tư duy toàn thể là sự liễu ngộ về ân sủng. Theo như đó, ân sủng không xuất phát từ một đối tượng khách thể và tác động đến chủ thể mà nó tồn tại một cách khách quan… Chủ thể có thể trải nghiệm trực tiếp bằng cách chứng kiến ân sủng phô diễn tuyệt đối hoàn hảo trong tất cả hiện hữu.Ân sủng vì thế mà là trạng thái viên mãn của tư duy. Điều này thật khó để có thể học tập như một loại kỹ năng. Nó cũng không phải là một lý thuyết hình thành từ các suy biện. Ân sủng chỉ có thể tự chín muồi trong một tâm hồn thanh thản và khiêm tốn!Nói cách khác, tư duy toàn thể chính là giai đoạn trưởng thành của tư duy sáng tạo thực tại. Vâng! Trên con đường truy tìm Chân Lý, để thoát ly khỏi sự chi phối của thế giới Ảo Ảnh, mọi kỹ thuật đều trở nên lãng phí… Chỉ có khiêm tốn mới là đáng kể!

BẢN CHẤT CỦA TỒN TẠI

Tồn tại trước nhất chính là sự phản ánh các phương diện của đời sống vào nhận thức của một cá thể có năng lực tư duy thông qua các giác quan.Thế nhưng, rõ ràng điều đó chỉ phản ánh khía cạnh nhận thức của tồn tại.Mặc nhiên tồn tại thực sự bao chứa tất cả mọi phương diện, bao gồm cả tồn tại khách quan và tồn tại phản ánh qua nhận thức của chủ thể.Một chủ thể phụ thuộc vào sự chi phối của các giác quan sẽ tiến tới xây dựng các kinh nghiệm về tồn tại một cách không ngừng nghỉ. Nỗ lực này chỉ chấm dứt khi năng lực nhận thức thông qua các giác quan bị phế bỏ vào lúc chủ thể có năng lực tư duy đối diện với cái chết.Nhưng dù sao thì kinh nghiệm chủ quan của một cá nhân, bao gồm cả những kinh nghiệm được tiếp cận thông qua học tập cũng nhanh chóng trở nên thừa thãi… Nó khiến cho cá nhân đó tư duy về tồn tại một cách không khách quan. Tập hợp các kinh nghiệm chủ quan đó hình thành nên tư duy lệch lạc về tồn tại. Chúng xây dựng nên cái gọi là thế giới Ảo Ảnh.Tập hợp các kinh nghiệm cá nhân đó lôi kéo và định hình cho chủ thể nhận nhầm về tồn tại như là tương tác giữa các sự kiện khách quan và bản ngã. Nhưng chính ý thức về bản ngã thì không ngừng đầu độc, khiến cho nhận thức về tồn tại mất đi tính khách quan thực sự của nó…Vì vậy một chủ thể muốn chấm dứt sự mê lạc trong thế giới Ảo Ảnh thì phải chấm dứt nỗ lực kinh nghiệm tồn tại thông qua các giác quan.Làm sao có thể như vậy được?! Chẳng phải là nhận thức sẽ chấm dứt khi chuỗi kinh nghiệm thông qua các giác quan bị đình chỉ đó ư?!Mặt khác, rõ ràng tồn tại chẳng mảy may quan tâm đến các kinh nghiệm cá thể. Tồn tại quá khách quan và vĩ đại đến mức nó bao gồm cả những quan kiến lệch lạc về chính nó thể hiện trong nhận thức của một chủ thể như thế giới Ảo Ảnh.Thực ra khi chấm dứt sự chi phối của các giác quan chẳng phải là chúng ta phế bỏ chúng đi. Nhưng chúng ta sẽ tiến hành một nỗ lực còn khó khăn hơn thế, đó là chấm dứt việc áp đặt kinh nghiệm cá vị lên các giác quan.Chỉ có không cuốn theo các kinh nghiệm chủ quan thì một cá nhân mới có thể chạm nắm được hơi thở khách quan của tồn tại… Vào lúc đó, phép màu xảy đến!Thật vậy!Nhận thức chân thực về tồn tại không thông qua các kinh nghiệm cá nhân thực sự là phép lạ!Phép lạ đó chính là ân sủng!Bản chất của tồn tại một khi được liễu ngộ trọn vẹn trong ân sủng sẽ đồng thời cải biến năng lực nhận thức trở thành tuệ giác. Tuệ giác, quả thật là sự giải phóng và thăng hoa trọn vẹn của tư duy.Ở nơi mà các yếu tố này gặp nhau, chúng ta chứng kiến tồn tại như nó là. Nói khác đi, tồn tại là Chân Như.Tóm lại trong giác quan thiên kiến của chúng ta, tồn tại chỉ phô diễn như thế giới Ảo Ảnh. Ngược lại, trong trạng thái hợp nhất của Tồn Tại Tuyệt Đối, Ý Thức Tuyệt Đối và Ân Sủng Tuyệt Đối mà tồn tại trở thành Chân Như.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *